Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015
Hệ sô hàng lưu (tồn) kho
Tỷ lệ doanh số hàng bán trên hàng lưu kho là quan trọng đối với công ty bởi vì hàng lưu kho là loại tài sản ít lưu hoạt nhất trong các tài sản lưu động. Vì công ty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên công ty sẽ được lợi khi bán hàng càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích sử dụng khác.
Giá trị hàng đã bán tính theo giá mua
Hệ số hàng lưu kho= ——————————————-
Giá trị hàng lưu kho trung bình
Ví dụ: Nếu giá trị hàng hoá bán hàng năm của một công ty là $ 3.000.000 (tính theo giá mua) và giá trị hằng lưu kho trung bình là $ 300.000, thì tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho của công ty này sẽ là 10 làn.
$3.000.000
Hệ số hàng lưu kho= ————————– = 10 lần
$300.000
Số liệu này phải được so sánh với hệ số trung bình của ngành trước khi đưa ra bất kì một bình luận nào, vì các hệ số trung bình của từng ngành khác nhau rất lớn.. Các công ty bán hàng hoá dễ hỏng, như rau tươi thường có tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho rất cao, trong khi đó con 30″ này ở một công ty sản xuất đèn ngủ sẽ thấp hơn nhiều. Tuy nhiên nếu hệ sô” của một công ty thấp hơn hệ sô” trung bình của ngành, thì nhà quản lý cần kiểm tra xem tại sao hàng lưu kho lại luân chuyển chậm quá như vậy.
Cần thận trọng khi xem xét hàng đã bán trên hàng lưu kho. Tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho cao không phải bao giờ cũng có nghĩa là việc bán hàng của công ty có hiệu quả. Hệ số hàng đã bán trên hàng lưu kho có thể rất cao khi công ty liên tục hết hàng dự trữ vì công ty không sản xuất đủ hoặc không mua đủ hàng hoá. Trong trường hợp này, hệ số cao thực tê lại cho thấy việc lập kế hoạch hay việc quản lí hàng dự trữ tồn. Do đó, trừ khi đã nghiên cứu kỹ chính sách về hàng lưu kho của một công ty, việc sử dụng chỉ riêng hệ số này chưa thể cung cấp đủ thông tin về khả năng huy động tiền mặt của công ty.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: thị trường chứng khoán ở việt
nam, phat
hanh chung khoan
Hệ số thu hồi nợ và hệ số thanh toán trung bình
Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thế tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.
Hệ số thu hồi nợ trung bình:
Việc tìm ra kỳ thu hồi nợ bán hàng trung bình của một công ty sẽ cho bạn biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.
Các khoản phải thu
Kỳ thu hồi nợ trung bình = ——————————————–
Doanh số bán chịu hàng năm/360 ngày
Hệ số thanh toán trung bình
Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả. Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm
Các khoản phải trả
Thời hạn thanh toán trung bình = —————————————
Tiền mua hàng chịu hàng năm/360 ngày
Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo cáo tài chính. Để có được sô” liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu.
Ví dụ: tính toán thời hạn thanh toán trung bình.
Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của công ty là 275.0 USD. Nếu giá mua hàng là 3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2400.0 USD (3.000.000 X 0.80). Bây giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau:
$275.000
Thời hạn thanh toán trung bình= ————————————- = 41.3 ngày
80 X $3.000.000 /360ngày
Thời hạn thanh toán trung bình (đối với các khoản phải trả) của công ty là 41.3 ngày. Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán dành cho công ty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng công ty đang trong tình trạng rủi ro cao nên đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ. Bất kỳ thời hạn nào dài hơn cũng có nghĩa là công ty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay công ty là một “người trả chậm”, tức là công ty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một nguồn tài trợ.
Đọc thêm tại: http://blogtimhieuchungkhoan.blogspot.com/2015/07/anh-gia-tong-tinh-hinh-tai-chinh-cua.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: nhận định thị trường chứng khoán, phát hành chứng khoán
Hệ số thu hồi nợ trung bình:
Việc tìm ra kỳ thu hồi nợ bán hàng trung bình của một công ty sẽ cho bạn biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.
Các khoản phải thu
Kỳ thu hồi nợ trung bình = ——————————————–
Doanh số bán chịu hàng năm/360 ngày
Hệ số thanh toán trung bình
Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả. Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm
Các khoản phải trả
Thời hạn thanh toán trung bình = —————————————
Tiền mua hàng chịu hàng năm/360 ngày
Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo cáo tài chính. Để có được sô” liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu.
Ví dụ: tính toán thời hạn thanh toán trung bình.
Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của công ty là 275.0 USD. Nếu giá mua hàng là 3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2400.0 USD (3.000.000 X 0.80). Bây giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau:
$275.000
Thời hạn thanh toán trung bình= ————————————- = 41.3 ngày
80 X $3.000.000 /360ngày
Thời hạn thanh toán trung bình (đối với các khoản phải trả) của công ty là 41.3 ngày. Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán dành cho công ty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng công ty đang trong tình trạng rủi ro cao nên đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ. Bất kỳ thời hạn nào dài hơn cũng có nghĩa là công ty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay công ty là một “người trả chậm”, tức là công ty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một nguồn tài trợ.
Đọc thêm tại: http://blogtimhieuchungkhoan.blogspot.com/2015/07/anh-gia-tong-tinh-hinh-tai-chinh-cua.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: nhận định thị trường chứng khoán, phát hành chứng khoán
Đánh giá tổng thể tình hình tài chính của doanh nghiệp
Để đánh giá tổng thể tình hình tài chính của DN, bạn phải biết cách đọc và hiểu rõ các báo cáo tài chính bao gồm:
– Bảng cân đối kế toán.
– Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
– Báo cáo luân chuyển tiền tệ.
Ở phần này chúng tôi chỉ đưa ra các khái niệm cơ bản và ví dụ minh hoạ về 3 báo cáo tài chính quan trọng gồm: bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo luân chuyển tiền tệ, để các bạn, đặc biệt là những người không được học chuyên ngành tài chính kế toán, có thê nắm bắt khái quát và hiểu như thế nào là báo cáo cáo tài chính của ĩ công ty và kết quả hoạt động của nó củng như nó có ý nghĩa gì. Sở dĩ chúng tôi không tập trung đi sâu vào phân tích từng mục chi tiết vì như vậy rất phức tạp đối với nhà đầu tư trong vấn đề nắm bắt.
– Bảng cân đối kế toán.
– Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
– Báo cáo luân chuyển tiền tệ.
Ở phần này chúng tôi chỉ đưa ra các khái niệm cơ bản và ví dụ minh hoạ về 3 báo cáo tài chính quan trọng gồm: bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo luân chuyển tiền tệ, để các bạn, đặc biệt là những người không được học chuyên ngành tài chính kế toán, có thê nắm bắt khái quát và hiểu như thế nào là báo cáo cáo tài chính của ĩ công ty và kết quả hoạt động của nó củng như nó có ý nghĩa gì. Sở dĩ chúng tôi không tập trung đi sâu vào phân tích từng mục chi tiết vì như vậy rất phức tạp đối với nhà đầu tư trong vấn đề nắm bắt.
Thậm chí, nếu chỉ riêng các vấn đề về báo cáo tài chính thôi thì có lẽ viết 1 vài cuốn sách chưa chắc đã nói hết được. Nếu các bạn muốn hiếu sâu thêm về các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, chúng tôi sẽ đề cập ở cuốn sách khác, hoặc các bạn có thể tìm đọc các cuốn sách chuyên ngành về các báo cáo tài chính hoạt động của doanh nghiệp.
Phần nợ
Phần nợ cho biết các khoản nợ của công ty. Một số khoản nợ này phải được thanh toán trong một thời gian ngắn (Nợ ngắn hạn) trong khi một số các khoản nợ khác phải được hoàn trả trong nhiều năm (nợ dài hạn).
– Nợ ngắn hạn: Nợ ngắn hạn là các khoản nợ dưới một năm. Chúng được xác định bởi từ “phải trả” thường được dùng dưới đây:
+ Các khoản phải trả: Số tiền mà một công ty mua chịu hàng hoá và dịch vụ đang còn nợ.
+ Các khoản khoản vay ngắn hạn phải trả: Khoản vay ngắn hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính.
+ Cổ tức phải trả: Tiền cổ tức đã được tuyên bố nhưng chưa trả.
+ Các khoản thuế phải nộp: số tiền mà công ty còn nợ Chính phủ.
– Lãi phải trả: Số tiền lãi công ty nợ đối với các khoản vay nợ dài hạn.
– Nợ dài hạn:Nợ dài hạn là khoản nợ có thời hạn từ một năm trỏ lên mà công ty phải trả. Ví dụ trái phiếu và các khoản vay nỢ dài hạn của ngân hàng. Ví dụ: Nợ dài hạn Giây nợ 9% hạn 2015: $300.000.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: sách thị trường chứng khoán,
phát
hành chứng khoán
Vay và cho vay tiền và chứng khoán
+ Vay tiền và vay chứng khoán của khách hàng: Các nhà môi giới chứng khoán bị cấm vay tiền hay chứng khoán từ khách hàng trừ phi khách hàng là ngân hàng hay các tổ chức tài chính có chức năng thực hiện việc cho vay tiền và chứng khoán.
+ Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các nhà môi giới chứng khoán cũng bị cấm cho khách hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệp vụ thông thường.
Xuyên tạc
+ Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các nhà môi giới chứng khoán cũng bị cấm cho khách hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệp vụ thông thường.
Xuyên tạc
Các nhà môi giới chứng khoán không được phép xuyên tạc, nói không đúng về bản thân hay về các dịch vụ của công ty mình đối với khách hàng tiềm năng. Không được phép xuyên tạc về:
– Trình độ, kinh nghiệm và học vấn.
– Loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng.
– Các loại phí.
Việc công bố không chính xác hay không công bô” các sự kiện quan trọng liên quan đến những vấn đề trên cũng bị coi là xuyên tạc. Khách hàng sẽ phải khó khăn khi so sánh chất lượng dịch vụ giữa các công ty chứng khoán nói chung và các nhà môi giới nói riêng nếu khách hàng không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác liên quan đến vấn đề chuyên môn.
Sử dụng các báo cáo, công trình nghiên cứu của công ty hoặc cá nhân khách
Nhà môi giới và công ty chứng khoán không được phép sử dụng các nghiên cứu phân tích hay đề nghị do cá nhân hay công ty khác tiến hành mà không công bô” rằng, các báo cáo này không phải do chính họ thực hiện. Nhà môi giới hay công ty chứng khoán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các báo cáo hay phân tích của người khác nhưng không được tự nhận rằng, các báo cáo, nghiên cứu đó là của mình.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: tài liệu thị trường chứng
khoán, dieu
kien phat hanh chung khoan
Phần vốn của các cổ đông
Phần vốn của các cổ đông thể hiện các giá trị thực của công ty. Nó chỉ ra mức độ quan tâm vê sở hữu của các cổ đông. Bảng dưới đây phân biệt các loại cổ phiếu khác nhau:
Cổ phiếu ưu đãi phản ánh trên bảng tổng kết tài sản dựa trên mệnh giá. Thường mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi là $100. Trong một số trường hợp, cổ tức của các cổ phiếu ưu đãi được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá. Trong ví dụ trên, cổ tức hàng năm cho cổ phiếu ưu đãi là $6 ($100 X 6%)
Cố phiếu thường được phản ánh trong bảng tổng kết tài sản dựa trên mệnh giá của các cổ phiếu thường của công ty. Mệnh giá chỉ để sử dụng cho mục đích ghi sổ sách. Mệnh giá cô phiếu thường không ảnh hưởng đến gía thị trường của cổ phiếu. Giá thị trường của cổ phiếu phản ánh yếu tố cung cầu của cổ phiếu cũng như trình độ quản trị công ty và khả năng tạo ra lợi nhuận.
Cổ phiếu ưu đãi phản ánh trên bảng tổng kết tài sản dựa trên mệnh giá. Thường mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi là $100. Trong một số trường hợp, cổ tức của các cổ phiếu ưu đãi được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá. Trong ví dụ trên, cổ tức hàng năm cho cổ phiếu ưu đãi là $6 ($100 X 6%)
Cố phiếu thường được phản ánh trong bảng tổng kết tài sản dựa trên mệnh giá của các cổ phiếu thường của công ty. Mệnh giá chỉ để sử dụng cho mục đích ghi sổ sách. Mệnh giá cô phiếu thường không ảnh hưởng đến gía thị trường của cổ phiếu. Giá thị trường của cổ phiếu phản ánh yếu tố cung cầu của cổ phiếu cũng như trình độ quản trị công ty và khả năng tạo ra lợi nhuận.
Thặng dư về vốn là số tiền các cổ đông trả theo mệnh giá cho các cổ phiếu công ty bán cho công chúng. Nó cũng được xem như là vốn góp. Nó không bao gồm vốn mà công ty nhận được từ lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập giữ lại thể hiện lợi nhuận ròng được dành lại sử dụng cho tương lai. cổ tức thường được trả từ thu nhập giữ lại.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của 1 doanh nghiệp, chi phí, lợi nhuận và lỗ lãi. Nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ta thấy rằng, đây là một doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, mức lãi ròng đạt gần 20% trên doanh thu. Tuy nhiên, khi đánh giá phân tích cần phối hợp xem xét nhiều yếu tố, đặc biệt là so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành, khi đó bạn mối có kết quả tương đối chính xác về khả năng kinh doanh, đánh giá mới đúng kết quả hoạt động và tốc độ phát triển của doanh nghiệp này.
Đọc thêm tại:
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)















